<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
  <channel>
    <title>DSpace Collection:</title>
    <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/172</link>
    <description />
    <pubDate>Tue, 19 May 2026 19:04:35 GMT</pubDate>
    <dc:date>2026-05-19T19:04:35Z</dc:date>
    <item>
      <title>Đa dạng vi khuẩn khử nitrat trong một số môi trường sinh thái ở Việt Nam và các chủng đại diện</title>
      <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9831</link>
      <description>Title: Đa dạng vi khuẩn khử nitrat trong một số môi trường sinh thái ở Việt Nam và các chủng đại diện
Authors: Nguyễn, Thị Tuyền; nnk
Abstract: Vi khuẩn sinh trưởng kỵ khí khử nitrat (Nitrate Reducing Bacteria - NRB) tại một số&#xD;
dạng môi trường sinh thái ở Việt Nam, cụ thể là thủy vực nước ngọt, bể xử lý nước thải và đầm&#xD;
nuôi tôm thủy sản ven biển được đánh giá về số lượng và mức đa dạng. Kết quả nghiên cứu cho&#xD;
thấy số lượng NRB cao nhất trong thủy vực nước ngọt và thấp nhất trong mẫu lấy từ bể xử lý nước&#xD;
thải. 12 chủng NRB được phân lập từ ba dạng môi trường sinh thái trên thể hiện tính đa dạng di&#xD;
truyền cao theo phân tích RFLP 16S rADN sử dụng hai enzyme HaeIII và MspI. Mẫu thủy vực&#xD;
nước ngọt, bể xử lý nước thải và đầm nuôi tôm thủy sản ven biển được sử dụng trong thí nghiệm&#xD;
làm giàu NRB với nguồn cơ chất Na-lactat và Na-benzoat. Phân tích điện di biến tính (DGGE) tập&#xD;
hợp NRB trong các mẫu làm giàu cho thấy tính đa dạng cao, trong đó Ochrobactrum và&#xD;
Paracoccus là hai nhóm vi khuẩn chiếm ưu thế ở mỗi tập hợp. Hai chủng đại diện Ochrobactrum&#xD;
sp. LF1 và Paracoccus sp. BB3 được phân lập và nghiên cứu khả năng loại bỏ nitrat trong môi&#xD;
trường nuôi cấy.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9831</guid>
      <dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Nghiên cứu các mẫu gạch cổ ở Tháp Chàm Mỹ Khánh - Thừa Thiên Huế</title>
      <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9544</link>
      <description>Title: Nghiên cứu các mẫu gạch cổ ở Tháp Chàm Mỹ Khánh - Thừa Thiên Huế
Authors: Phan, Văn Tường; Trần, Ngọc Tuyền
Abstract: Bài báo trình bày những kết quả nghiên các mẫu gạch cổ xây tháp Chàm Mỹ Khánh, Thừa Thiên&#xD;
Huế. Kết quả phân tích thành phần hoá học, (X-ray diffraction) XRD, (Thermal Gravity-Differential&#xD;
Scanning Calorimeter) TG-DSC, (Scanning Electron Microscope) SEM, và độ hút vôi của các mẫu&#xD;
gạch cho thấy chúng được sản xuất từ đất sét với trấu, rơm rạ, và nung kết khối ở nhiệt độ dưới 900oC.&#xD;
Đây là loại gốm xốp giàu SiO2 hoạt tính, có tính axit, không bền trong môi trường có tính bazơ như xi măng.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9544</guid>
      <dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Phân tích yếu tố địa lý của hệ thực vật khu Bảo tồn Thiên nhiên Chạm Chu, tỉnh Tuyên Quang</title>
      <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9540</link>
      <description>Title: Phân tích yếu tố địa lý của hệ thực vật khu Bảo tồn Thiên nhiên Chạm Chu, tỉnh Tuyên Quang
Authors: Nguyễn, Trung Thành; Chu, Thái Hà
Abstract: Yếu tố địa lý của các chi trong hệ thực vật đã được phân tích, trong đó yếu tố nhiệt đới&#xD;
chiếm tỷ lệ lớn nhất 348 chi (75,16%) bao gồm ba yếu tố thành phần cơ bản: Liên nhiệt đới chiếm&#xD;
15 chi (3,24%), cổ nhiệt đới chiếm 39 chi (8,42%) và nhiệt đới châu Á là 294 chi (63.50%). Tiếp&#xD;
đến là yếu tố ôn đới 39 chi chiếm 8,42% và yếu tố đặc hữu có 74 chi chiếm tỷ lệ 15,98%, thấp nhất&#xD;
là yếu tố toàn cầu và yếu tố cây trồng chỉ có 2 loài chiếm 0,43%. Yếu tố địa lý của các loài cũng&#xD;
được xác định, về cơ bản yếu tố nhiệt đới chiếm tỷ lệ rất lớn 88,8% trong đó nhiệt đới châu Á&#xD;
chiếm tỷ lệ lớn nhất 66,6%, tiếp đến là yếu tố đặc hữu với 14,5%, yếu tố cổ nhiệt đới với 7,32%,&#xD;
yếu tố ôn đới chiếm 5,83%, thấp nhất là hai yếu tố toàn cầu 0,5% và cây trồng 0,4%.&#xD;
Trong số 747 loài đã xác định, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm ưu thế với tỷ lệ 68,09%, tiếp&#xD;
đến là nhóm cây chồi sát đất (Ch) tỷ lệ 11,12% tập trung chủ yếu vào họ Poaceae; nhóm cây chồi&#xD;
ẩn (Cr) tỷ lệ 10,18% tập chung chủ yếu vào các họ Zingiberceae, Cyperaceae và một số họ trong&#xD;
ngành Polypodiophyta (Adiantaceea, Aspleniaceae, Pteridaceae); nhóm cây một năm (Th) chiếm&#xD;
tỷ lệ 4,15% tập trung chủ yếu vào các họ Poaceae, Asteraceae, Cucurbitaceae, Brassicaceae; nhóm&#xD;
cây chồi nửa ẩn (Hm) chiếm 4,15% tập chung chủ yếu vào các họ Apiaceae, Orchidaceae.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9540</guid>
      <dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
    <item>
      <title>Về khả năng ứng dụng mô hình RegCM vào dự báo hạn mùa các trường khí hậu bề mặt ở Việt Nam</title>
      <link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9536</link>
      <description>Title: Về khả năng ứng dụng mô hình RegCM vào dự báo hạn mùa các trường khí hậu bề mặt ở Việt Nam
Authors: Phan, Văn Tân; và nnk
Abstract: Trong bài này trình bày một số kết quả thử nghiệm bước đầu ứng dụng mô hình khí hậu&#xD;
khu vực RegCM3 để dự báo nhiệt độ trung bình tháng và tổng lượng mưa tháng cho ba tháng mùa&#xD;
hè 6-8/1996 khi sử dụng sản phẩm kết xuất của mô hình khí hậu toàn cầu CAM làm điều kiện ban&#xD;
đầu và điều kiện biên (RegCM-CAM). Các trường dự báo của RegCM-CAM đã được đánh giá&#xD;
bằng cách so sánh với sản phẩm mô phỏng tương ứng của RegCM3 với đầu vào là số liệu tái phân&#xD;
tích ERA40 và nhiệt độ mặt nước biển phân tích OISST (RegCM-ERA). Kết quả dự báo nhiệt độ&#xD;
và lượng mưa của RegCM-CAM còn được so sánh trực tiếp với số liệu phân tích CRU (nhiệt độ)&#xD;
và CMAP (lượng mưa), và đánh giá định lượng cho khu vực Việt Nam bằng cách nội suy về vị trí&#xD;
trạm và so sánh với số liệu quan trắc từ mạng lưới trạm khí tượng thông qua các chỉ số thống kê.&#xD;
Kết quả nhận được cho thấy, về cơ bản các trường nhiệt độ và lượng mưa dự báo của&#xD;
RegCM-CAM phù hợp tốt với sản phẩm mô phỏng của RegCM-ERA cũng như với các trường&#xD;
phân tích CRU, CMAP.&#xD;
Trên khu vực Việt Nam, RegCM-CAM thường dự báo nhiệt độ thấp hơn quan trắc; sai số dự báo&#xD;
nhiệt độ của RegCM-CAM trung bình khoảng 2oC, khá ổn định và có tính hệ thống.&#xD;
RegCM-CAM cũng cho lượng mưa dự báo ở Việt Nam thấp hơn thực tế, tuy nhiên sai số còn khá lớn và không thể hiện rõ qui luật. Trong ba tháng thử nghiệm, dự báo lượng mưa của&#xD;
RegCM-CAM cho tháng 6/1996 là hợp lý nhất.</description>
      <pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/9536</guid>
      <dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
    </item>
  </channel>
</rss>

