<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom">
<title>Vol. 25, No.1</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/48" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/48</id>
<updated>2026-05-19T07:15:04Z</updated>
<dc:date>2026-05-19T07:15:04Z</dc:date>
<entry>
<title>Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6484" rel="alternate"/>
<author>
<name>Lê, Thị Hồng Điệp</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6484</id>
<updated>2011-05-04T04:01:34Z</updated>
<published>2009-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam
Lê, Thị Hồng Điệp
Bài báo tập trung làmrõ hai vấnđề sau:&#13;
Thứ nhất, tổng kết kinh nghiệm trọng dụng nhân tài trong khu vực công và khu vực sản xuất, kinh&#13;
doanh để hình thành nền kinh tế tri thức của các quốc gia châu Á. Đối với khu vực công, bài báo nhấn&#13;
mạnh tới kinh nghiệm đào tạo và sử dụng nhân tài, đặc biệt là đội ngũ nhân tài trẻ của Singapore; kinh&#13;
nghiệm xây dựng quy trình khoa học cho việc phát hiện, đánh giá và tuyển chọn nhân tài của Hàn&#13;
Quốc; sự linh hoạt trong tuyển dụng và bố trí công việc cho nhân tài của Trung Quốc. Đối với khu vực&#13;
sản xuất, kinh doanh, bài báo nêu những kinh nghiệmthu hút nhân tài người nước ngoài bằng những ưu&#13;
đãi và ràng buộc thông qua kênh giáo dục đại học của Singapore và những kinh nghiệm trong việc thu&#13;
hút Hoa kiều tài năng của TrungQuốc.&#13;
Thứ hai, đề xuất 5 gợi ý cho Việt Nam -một quốc gia đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng&#13;
bước tiếp cận kinh tế tri thức để thay đổi vị thế quốc gia trong tương lai. Trong những đề xuất đó, có&#13;
những đề xuất mang tính chiến lược ở tầm quốc gia, có những đề xuất cụ thể cho từng bộ, ngành, địa&#13;
phương.
Kinh tế và Kinh doanh. Vol 25 (2009), No. 1, P. 54-61
</summary>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ: Bài học và một số kiến nghị</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6482" rel="alternate"/>
<author>
<name>Phạm, Toàn Thiện</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6482</id>
<updated>2011-05-04T03:55:26Z</updated>
<published>2009-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ: Bài học và một số kiến nghị
Phạm, Toàn Thiện
Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp dưới&#13;
chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác động mạnh đến cả&#13;
hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên&#13;
bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải&#13;
quyết khủng hoảng. Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá&#13;
các khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn. Thứ nhất, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá,&#13;
dựa hoàn toàn vào những đánh giá của các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều&#13;
khoản vay không đủ chuẩn. Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ&#13;
chuẩn và không đủ chuẩn, gây ra cả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán. Kiến nghị của bài viết&#13;
này là cần xem xét lại chức năng của chứng khoán hoá với tư cách là một công cụ tài chính, tránh&#13;
việc đầu tư chủ yếu dựa vào đánh giá của các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm, tìm ra phương&#13;
thức định giá tài sản trong điều kiện thiếu thanh khoản, tăng tính minh bạch về rủi ro ngân hàng và&#13;
suy ngẫm về mô hình kinh doanh mới.&#13;
Bài viết sử dụng khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn trong hệ thống tài chính toàn cầu như&#13;
một ví dụ về tầm quan trọng của quản trị rủi ro trong các tổ chức tài chính. Cũng như Oxy, quản trị&#13;
rủi ro chỉ được quan tâm khi thiếu nó. Thông thường, khi quản trị rủi ro hoạt động, chúng ta xem&#13;
nhẹ nó, song khi nó ngừng hoạt động thì hệ thống “chuyển động” chậm lại và dừng hẳn...
Kinh tế và Kinh doanh. Vol 25 (2009), No.1, P. 39-53
</summary>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu: Một số phân tích định lượng ban đầu</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6433" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Đức Thành</name>
</author>
<author>
<name>Bùi, Trinh</name>
</author>
<author>
<name>Đào, Nguyên Thắng</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6433</id>
<updated>2011-04-29T08:40:58Z</updated>
<published>2009-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu: Một số phân tích định lượng ban đầu
Nguyễn, Đức Thành; Bùi, Trinh; Đào, Nguyên Thắng
Mục đích của bài viết này là xác định ảnh hưởng của việc tăng giá xăng đột ngột lên thêm&#13;
30% đến nền kinh tếViệt Nam. Bài nghiên cứu sử dụng kết quả từ bộ điều tra mới nhất về mức sống hộ&#13;
gia đình năm2006 (VHLSS 2006) để ước lượng ảnh hưởng trực tiếp của việc tăng giá xăng dầu lên sức&#13;
mua của hộ gia đình và qua đó là mức sống của họ. Các hộ gia đình được chia làm năm nhóm theo thu&#13;
nhập từ thấp đến cao, đồng thời có phân biệt nông thôn và thành thị. Tiếp đó, chúng tôi sử dụng các kỹ&#13;
thuật phân tích bảng cân đối liên ngành (đầu vào - đầu ra) để xác định ảnh hưởng của chính sách này&#13;
lên cấu trúc sản xuất của nền kinh tế, được phân theo 112 ngành sản xuất. Bảng cân đối liên ngành được&#13;
sử dụng trong nghiên cứu này là bảng mới nhất, theo số liệu của năm 2005. Kết quả cho thấy ảnh&#13;
hưởng trên cấp độ ngành cũng như cấp độ vĩ mô, thông qua các chỉ số như chỉ số tiêu dùng (CPI) và&#13;
Tổng sản phẩm quốc gia (GDP).
Kinh tế và Kinh doanh. Vol 25 (2009), No. 1, P. 25-38
</summary>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Hoàn thiện và phát triển thị trường tín dụng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6432" rel="alternate"/>
<author>
<name>Vũ, Thị Dậu</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6432</id>
<updated>2011-05-04T03:49:00Z</updated>
<published>2009-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Hoàn thiện và phát triển thị trường tín dụng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Vũ, Thị Dậu
Sau 20 năm đổi mới, thị trường tín dụng Việt Nam vẫn trong tình trạng không có sự&#13;
thống nhất, bị phân mảng và còn chịu sự can thiệp khá lớn từ Chính phủ cả phía cung lẫn phía cầu&#13;
tín dụng. Tình trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phân bổ các nguồn lực kinh tế theo hướng&#13;
hiệu quả, tới tăng trưởng kinh tế và mức độ hội nhập quốc tế của thị trường này. Đến nay, Việt&#13;
Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng, đã trở thành thành viên chính thức của WTO,&#13;
do vậy, việc hoàn thiện thị trường tín dụng theo hướng tạo ra tính thống nhất và mang tính cạnh&#13;
tranh cao đã trở thành một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế.&#13;
Có thể chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng này như sau: một là, vẫn còn có sự can thiệp khá&#13;
lớn của Nhà nước tới doanh nghiệp và ngân hàng thương mại Nhà nước; hai là, bản thân các&#13;
doanh nghiệp và ngân hàng đều chưa trở thành những chủ thể kinh tế đủ mạnh trong môi trường&#13;
cạnh tranh; ba là, do tính chưa hoàn thiện của thị trường này ở Việt Nam. Để phát triển và hoàn&#13;
thiện thị trường tín dụng Việt Nam, cần tới các giải pháp hướng tới giảm thiểu và xoá bỏ sự can&#13;
thiệp trực tiếp của Nhà nước tới hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng; đẩymạnh tiến trình cải&#13;
cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng&#13;
thương mại Việt Nam. Khi đó, thị trường tín dụng Việt Nam sẽ là một “sân chơi chung” cho các&#13;
lực lượng tham gia thị trường và hoạt động theo các nguyên tắc thị trường, hiệu quả hoạt động của&#13;
thị trường theo đó sẽ được cải thiện.
Kinh tế và Kinh doanh. Vol 25 (2009), No. 1, P. 17-24
</summary>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
