<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom">
<title>Tiểu ban Ngôn ngữ và tiếng Việt</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6258" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6258</id>
<updated>2026-05-19T16:36:10Z</updated>
<dc:date>2026-05-19T16:36:10Z</dc:date>
<entry>
<title>MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁCH PHIÊN ÂM TỪ VIỆT BẰNG CHỮ HÁN TRONG AN NAM QUỐC DỊCH NGỮ VÀ TRONG TỨ DI QUẢNG KÝ - QUA VIỆC SO SÁNH VỚI AN NAM DỊCH NGỮ</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6276" rel="alternate"/>
<author>
<name>Shimizu, Masaaki</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6276</id>
<updated>2011-04-28T11:21:33Z</updated>
<published>2008-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁCH PHIÊN ÂM TỪ VIỆT BẰNG CHỮ HÁN TRONG AN NAM QUỐC DỊCH NGỮ VÀ TRONG TỨ DI QUẢNG KÝ - QUA VIỆC SO SÁNH VỚI AN NAM DỊCH NGỮ
Shimizu, Masaaki
Từ khi H. Maspéro (1912) đề cập đến An Nam dịch ngữ như là một tài liệu&#13;
tiếng Việt cổ quan trọng nhất trong ngữ âm học lịch sử tiếng Việt cho đến nay,&#13;
E. Gaspardone (1953), Trần Kinh Hoà (1969), J. Davidson (1975), và Vương Lộc&#13;
(1997) đã giới thiệu các loại văn bản và cách phiên âm từ Việt bằng chữ Hán trong&#13;
tài liệu này. Theo Trần Kinh Hoà, các loại văn bản được chia làm hai hệ: những&#13;
bản thuộc hệ bản Awanokuni Bunko 阿波國文庫1 có tên là An Nam dịch ngữ&#13;
安南譯語(ANDN) và một bản trong Tứ Di quảng ký 四夷廣記 có tên gọi riêng là&#13;
An Nam quốc dịch ngữ 安南國譯語(ANQDN). Các loại v ăn b ản được sử dụng&#13;
trong các công trình trên là như sau:
</summary>
<dc:date>2008-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>VỊ TRÍ CỦA TIẾNG BIH TRONG CÁC NGÔN NGỮ NHÓM CHĂM</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6275" rel="alternate"/>
<author>
<name>Đoàn, Văn Phúc</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6275</id>
<updated>2011-04-28T11:19:20Z</updated>
<published>2008-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">VỊ TRÍ CỦA TIẾNG BIH TRONG CÁC NGÔN NGỮ NHÓM CHĂM
Đoàn, Văn Phúc
Từ trước đến nay, khi bàn về số lượng, thành phần các ngôn ngữ trong&#13;
nhóm Chăm (Chamic group), cũng như việc phân chia, sắp xếp tiếng nói của&#13;
những cộng đồng cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ này, thường có hai loại ý kiến:&#13;
1) Đa số các nhà nghiên cứu về cơ bản thống nhất với nhau rằng nhóm Chăm gồm&#13;
có ít nhất 5 ngôn ngữ: Chăm, Raglai, Chru, Giarai, Êđê. 2) Tuy nhiên cũng có&#13;
những người không đồng tình với ý kiến như vậy. Họ coi nhóm Chăm gồm ít nhất&#13;
6 ngôn ngữ: Chàm (Chăm), Raglai, Chru, Giarai, Êđê, và Bih (Rơmah Del, Trương&#13;
Văn Sinh, 1974). Gorys Keraf - một nhà ngôn ngữ học Indonesia trong cuốn&#13;
Linguistik Bandingan Historis (Ngôn ngữ học so sánh lịch sử, 1996) - đã đưa ra những&#13;
quan niệm hơi khác lạ về số lượng, thành phần các ngôn ngữ Chăm. Ông cho rằng&#13;
các ngôn ngữ Chăm ít nhất gồm 5 ngôn ngữ: 1- Cham (bao gồm Cham và Churu);&#13;
2- Raglai; 3- Jarai (bao gồm Giarai, Hơbau, Hơdrong, Arap); 4- Ngôn ngữ pha trộn&#13;
Jarai-Rade (bao gồm các nhóm: Chur, Krung, Mdhur, Blao - Blô); 5 - Rade ('Ede)&#13;
bao gồm ít nhất tiếng nói của 9 nhóm Kpa, Atham, Dle Rue, Ktul, Kadung, Drau,&#13;
Mun, Bi (Pi), Relam (Rlam). Gần đây, Graham Thurgood (1998) cho rằng có lẽ cần&#13;
phải coi tiếng Chăm Hroi là một ngôn ngữ riêng.
</summary>
<dc:date>2008-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>VỀ MỘT SỐ VẦN MŨI HOÁ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA CHÚNG TRÊN VĂN TỰ</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6274" rel="alternate"/>
<author>
<name>Đoàn, Thiện Thuật</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6274</id>
<updated>2011-04-28T11:17:29Z</updated>
<published>2008-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">VỀ MỘT SỐ VẦN MŨI HOÁ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ SỰ THỂ HIỆN CỦA CHÚNG TRÊN VĂN TỰ
Đoàn, Thiện Thuật
Nhìn vào lịch sử chữ Quốc ngữ, nhiều người có những ngộ nhận về sự biến&#13;
đổi của chữ viết. Mỗi khi thấy cách viết ở một từ nào đó khác ngày nay thì cho đó là&#13;
sự thay đổi về chữ viết. Thực ra không phải thế. Một từ vào thế kỷ XVII được ghi&#13;
bằng tl, ml như tlứng, mlời, mlẽ [1] nay được viết bằng tr, l (trứng, lời lẽ) thì đó là&#13;
những sự kiện của ngữ âm lịch sử chứ không phải của chữ viết. Về văn tự không có&#13;
gì thay đổi vì các âm /t, l, m/ từ bấy đến nay vẫn được ghi bằng các chữ “t, l, m”. Tôi&#13;
đã có dịp phát biểu ý kiến của tôi và phê phán những ngộ nhận đó [2]. Ngược lại,&#13;
có những vấn đề cần phải thảo luận, đó là những từ mà từ bấy đến nay cách phát&#13;
âm không hề thay đổi nhưng cách viết thì trước khác, ngày nay khác.
</summary>
<dc:date>2008-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>THỬ TÌM HIỂU CÁCH THỨC TRI NHẬN THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI VIỆT (TRÊN NGỮ LIỆU CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG VẬT)</title>
<link href="http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6273" rel="alternate"/>
<author>
<name>Lý, Toàn Thắng</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Thanh Huyền</name>
</author>
<id>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/6273</id>
<updated>2011-04-28T11:15:28Z</updated>
<published>2008-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">THỬ TÌM HIỂU CÁCH THỨC TRI NHẬN THẾ GIỚI CỦA NGƯỜI VIỆT (TRÊN NGỮ LIỆU CÂU ĐỐ VỀ ĐỘNG VẬT)
Lý, Toàn Thắng; Nguyễn, Thị Thanh Huyền
Theo Humboldt, ngôn ngữ phải được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ&#13;
với ý thức và tư duy, với văn hoá và cuộc sống tinh thần của con người.&#13;
Theo ông, ngôn ngữ không phản ánh trực tiếp thế giới bên ngoài, mà nó cho&#13;
thấy cái cách thức riêng của mỗi dân tộc trong việc giải thích thế giới. Ngôn ngữ khác&#13;
nhau thì thế giới quan khác nhau, các ngôn ngữ khác nhau không phải là những cách&#13;
biểu đạt khác nhau về thế giới mà là những cách nhìn thế giới khác nhau.&#13;
Cũng theo Humboldt, cần phải phân biệt giữa “hình thức bên trong” và&#13;
“hình thức bên ngoài” của ngôn ngữ, của từ; trong đó “hình thức bên trong” gắn&#13;
với thế giới quan của cộng đồng bản ngữ, còn “hình thức bên ngoài” thì gắn với&#13;
ngữ âm, ngữ pháp v.v…
</summary>
<dc:date>2008-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
