<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
<channel>
<title>Vol. 25, No.2</title>
<link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/79</link>
<description/>
<pubDate>Tue, 19 May 2026 15:35:49 GMT</pubDate>
<dc:date>2026-05-19T15:35:49Z</dc:date>
<item>
<title>Kế hoạch hóa ngôn ngữ trong giáo dục ở Malaisia</title>
<link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11070</link>
<description>Kế hoạch hóa ngôn ngữ trong giáo dục ở Malaisia
Nguyễn, Thị Vân
Malaysia là một quốc gia trẻ ở khu vực Đông Nam Á, được thành lập vào ngày 19.09.1963 Một đặc điểm dễ nhận thấy ở đất nước này là đa dân tộc kéo theo đã ngữ xã hội và chịu sự xâm lược của thực dân phương Tây. Trước khi cộng đồng người nước ngoài di cư đến đây, Malaysia đã là “ngôi nhà chung của vô số ngôn ngữ bản địa”. Mứ độ đa ngữ lại càng phức tạp hơn với sự có mặt của các dân tộc mới. Cho đến nay chưa có con số chính xác về số lượng ngôn ngữ bản địa, đặc biệt là các ngôn ngữ vùng Sabah sarawak nhưng theo ước tính có khoảng hơn 80 ngôn ngữ đang hiện diện trên đất nước này. Tuy nhiên, có 3 tộc người chính ở Malaysia, đó là: người Melayu 59%, người Trung Quốc 28%, người Ấn Độ 8%. Vì vậy việc xây dựng một chính sách ngôn ngữ đảm bảo quyền lợi của tất cả các dân tộc là một trong những vấn đề hàng đầu trong sự phát triển của đất nước như các học giả Malaysia vẫn thường nói: “Bahasa jiwa Bangsa” (Ngôn ngữ là linh hồn dân tộc), ngôn ngữ là nền tảng vun đắp sự thống nhất quốc gia. Bên cạnh đó sự phân chia thỏa đáng quyền lực giữa ngôn ngữ bản địa và tiếng nước ngoài, cụ thể là tiếng Anh là một thách thức khá lớn đối với tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ở quốc gia này.&#13;
Bài viết sẽ đề cập đến những nội dung sau đây:&#13;
1.	Kế hoạc hóa ngôn ngữ trong giáo dục (thời kỳ trước khi Malaysia giành được độc lập), thể hiện ở:&#13;
1.1	Giáo dục sử dụng tiếng Malay;&#13;
1.2	Giáo dục sử dụng tiếng Tamil;&#13;
1.3	Giáo dục sử dụng tiếng Hoa;&#13;
1.4	Giáo dục sử dụng tiếng Anh;&#13;
2.	Vai trò hiện tại của tiếng Anh và tiếng Malay trong giáo dục&#13;
Việc hoạch định chính sách ngôn ngữ giáo dục của nhà nước Malaysia theo chúng tôi khá mềm móng, thuyến phục và đã thu hút được những thành công đáng kể phù hớp với điều kiện xã hội, lịch sử và tộc người. Để làm được điều đó, các chính sách giáo dục của Malaysia đã trải qua nhiều giai đoạn đổi mới để đạt được mục tiêu: tiếng Maly là ngôn ngữ giảng dạy chính và tiếng Anh là ngôn ngữ quan trọng thữ hai trong các cấp giáo dục ở Malaysia hiện nay.
</description>
<pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11070</guid>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Nhìn nhận chính sách xã hội hóa quản lý rác thải của Thành phố Hà Nội từ hoạt động của hợp tác xã vệ sinh môi trường Thành Công tại phường Nhân Chính</title>
<link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11069</link>
<description>Nhìn nhận chính sách xã hội hóa quản lý rác thải của Thành phố Hà Nội từ hoạt động của hợp tác xã vệ sinh môi trường Thành Công tại phường Nhân Chính
Đinh, Đức Trường
Chính sách xã hội hóa quản lý rác thải đo thị của Thành phố Hà Nội khởi xướng năm 2000 đã tạo ra tiền đề cho sự tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng trong quản lý chất thải rắn đô thị. Bên cạnh cách doanh nghiệp nhà nước, các mô hình doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, cộng đồng thu gom và vận chuyển rác đã ra đời và hoạt động, từng bước đạt được các kết quả khả quan, giảm bớt gành nặng nguôn lực cho Nhà nước trong quản lý đô thị. Nghiên cứu này giới thiệu về hoạt động của mô hình hợp tác xã vệ sinh môi trường Thành Công và đánh giá hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải đô thị của hợp tác xã địa bàn Nhân Chính. Kết quả đánh giá cho thấy mô hình đạt được hiệu quả trong cả bốn khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và quản lý. Tuy nhiên, hoạt động của mô hình vẫn gặp phải những khó khăn về cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính cũng như ý thức chưa cao của một bộ phận người dân. Đây cũng chính là những khía cạnh mà các nhà quản lý cần quan tâm và đưa ra các giải pháp cụ thể để tiếp tục hỗ trợ và khuyến khích, thúc đẩy chính sách xã hội hóa.
</description>
<pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11069</guid>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Chiều kích lịch sử của trường ca cách mạng trong văn học Việt Nam hiện đại</title>
<link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11068</link>
<description>Chiều kích lịch sử của trường ca cách mạng trong văn học Việt Nam hiện đại
Diêu, Thị Lan Phương
Đối với thể loại, chiều kích lịch sử là yếu tố quan trọng nhất để trả lời được câu hỏi mà thể loại, hay hẹp hơn là văn bản, đặt ra trong một giai đoạn. Trong nền văn học cách mạng Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn chống Mỹ, có sự phát triển và lên ngôi của một thể loại vẫn được gọi là trường ca. Thể loại này, dù chưa đạt đến đỉnh cao nhưng lại thể hiện tính chất riêng biệt, đặc thù của một thời kì văn học. Ý nghĩa to lớn của nó biểu hiện ở các khía cạnh như: thể hiện cao độ khuynh hướng sử thi của văn học cách mạng, là thể loại mang tính chất “kết thúc” cho tinh thần của một thời kì văn học, là thể loại thể hiện sự hồi đáp, thâm nhập sâu sắc giữa các thể loại khác. Tóm lại, từ chiều kính lịch sử, trường ca không chỉ cho phép chúng ta thấy sự phát triển và ý nghĩa của nó, mà còn cho thấy sự vận động của một nền văn học.
</description>
<pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11068</guid>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Hàm ý khen, chê con người trong thành ngữ tiếng Việt</title>
<link>http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11067</link>
<description>Hàm ý khen, chê con người trong thành ngữ tiếng Việt
Vũ, Đức Nghiệu; Nguyễn, Thị Phương Dung
Bài nghiên cứu này khảo sát 779 thành ngữ mà ngoài các nghĩa biểu hiện ra, chúng còn chứa hàm ý khen (2 chủ đề) hoặc chê ( 51 chủ đề) của người nó đối với người được nói tới&#13;
Chúng tôi thấy: Trong 137 thành ngữ có hàm ý khen thì khen về phẩm chất, nhân cách, hành vi, thái độ ứng xử,… nhiều hơn (76 đơn vị), so với khen về các đặc điểm thuộc tính hình thức (61 đơn vị). Sự biểu hiện của các thành ngữ có hàm ý khen thường rất ước lệ, ít thành ngữ có ý nghĩa miêu tả cụ thể.&#13;
642 thành cữ có hàm ý chê thì chê về phẩm chất, đạo đức, nhân cách, trí tuệ, hành vi, thái độ ứng xử của con người là chủ yếu (595 đơn vị). Số có hàm ý chề về hình thức (gồm cả chê về sức khỏe) rất ít ỏi: 47 đơn vị.&#13;
Về cấu trúc hình thức, các thành ngữ so sánh (ví dụ: khinh khỉnh như nhĩnh mắm thối) chiếm tỷ lệ rất nhỏ (107 đơn vị); phần còn lại (672 đơn vị), đều là các thành ngữ ẩn dụ (ví dụ: theo đóm ăn tàn,..). Sự biểu hiện nghĩa của thành ngữ có hàm ý chê bai rất giầu hình ảnh và tinh tế, hết sức sắc sảo.&#13;
Những tư liệu được khảo sát, phần nào đó, có thể cho thấy các thể hiện về mặt ngôn ngữ và một số điểm về triết lý nhân sinh của con người Việt qua một bộ phận từ vựng là các thành ngữ của họ.
</description>
<pubDate>Thu, 01 Jan 2009 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/11067</guid>
<dc:date>2009-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</channel>
</rss>
